Tìm hiểu hơn 1,000 thuật ngữ kinh tế được giải thích dễ hiểu và những khóa học về kinh tế tài chính. Đăng ký ngay để được miễn phí giải đáp câu hỏi về tài chính kinh tế!

Lợi ích cổ đông không kiểm soát (Non-controlling interest)

Lợi ích cổ đông không kiểm soát (Non-controlling interest)

Lợi ích cổ đông không kiểm soát là một khái niệm phức tạp. Nhiều doanh nghiệp có số cổ đông nhỏ lẻ rất nhiều nhưng không được ghi nhận là cổ đông không kiểm soát trên BCTC. Vậy chúng ta cần hiểu như thế nào về vấn đề này?

  1. Định nghĩa


Cổ đông không kiểm soát là các cổ đông không nắm đủ số lượng cổ phiếu để có quyền kiểm soát một công ty mình tham gia đầu tư (thường cổ phần nắm giữ < 50%).  Những cổ đông này sẽ vẫn được nhận một phần lợi nhuận kinh doanh và cổ tức được chia tương ứng với số cổ phần họ nắm, nhưng khoản mục này sẽ được hạch toán riêng trên báo cáo tài chính thành một mục là: Lợi nhuận sau thuế của cổ đông không kiểm soát (trên báo cáo Kết quả kinh doanh) và lợi ích cổ đông không kiểm soát (Non-controlling interest) trên bảng cân đối kế toán. Khoản mục này được trình bày trong Báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ. 

Thường thường, bạn sẽ ít thấy khoản đầu tư này được ghi nhận ở Báo cáo tài chính của các công ty mặc dù có nhiều cổ đông nhỏ lẻ không có quyền kiểm soát đối với doanh nghiệp. Lý do là vì trong kế toán, một khoản mục chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về sự hình thành của khoản mục đó (chứng từ, sổ sách, hợp đồng). Do đó, hầu hết lợi ích cổ đông không kiểm soát sẽ chỉ được ghi nhận sau những hoạt động như sáp nhập hoặc thâu tóm công ty, với chứng từ đầy đủ về các cổ đông kiểm soát và không kiểm soát của công ty thâu tóm và công ty bị thâu tóm.

Một cổ đông được cho là có quyền kiểm soát nếu như:

  • Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty

  • Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty

  • Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty

  • Có quyền bỏ đa số phiếu trong các cuộc họp Hội đồng quản trị

  • Có quyền chi phối các chính sách tài chính và một số hoạt động kinh doanh quan trọng của công ty theo quy chế thỏa thuận

Vậy đối với cổ đông không kiểm soát, họ chỉ được chia sẻ lợi nhuận và cổ tức của công ty theo % tỷ lệ cổ phần nắm giữ mà không có quyền biểu quyết các quyết định quan trọng trong doanh nghiệp.


2. Cách xác định lợi ích cổ đông không kiểm soát


Trong kế toán sẽ có nhiều cách tính tương đối phức tạp về vấn đề này. Ở đây chúng ta sẽ nói về góc độ bản chất kinh tế. Lợi ích được chia cho cổ đông không kiểm soát sẽ tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhóm cổ đông không kiểm soát trong doanh nghiệp.

Ví dụ công ty A đầu tư trực tiếp vào các công ty B, C, D với tỷ lệ sở hữu tài sản thuần lần lượt là 70%, 100%, 60%. Khi đó:

  • Tỷ lệ lợi ích  của cổ đông lớn A trong B, C, D lần lượt là 70%, 100%, 60%.

  • Tỷ lệ lợi ích của các cổ đông không kiểm soát tại B, C, D lần lượt là 30%, 0%, 40%.

Tương ứng với tỷ lệ lợi ích trên, các cổ đông không kiểm soát tại B, C, D sẽ lần lượt nhận được 30%, 0% và 40% lợi nhuận từ HĐKD hàng năm của các công ty đó, nhưng các vấn đề biểu quyết về hoạt động kinh doanh sẽ thuộc quyền quyết định chính của cổ đông A.